thi sĩ Hoàng Việt Hằng: Mồ hôi thấm trên trang giấy – Sinh trắc vân tay Infolife

Chị bảo, quán đó ở phố Bùi Thị Xuân. Dẫn bạn tới phố đó. Thấy nhiều quán bún ốc. Chả nhẽ lại gọi chị Hằng? Quốc đang đói. Thôi thì quán nào thì cũng rất được. Chắc quán nào thì cũng ngon. Lát sau, chị Hằng tới. Chị bảo, hai đứa ngồi nhầm chỗ rồi. Quán dưới kia cơ. chuyện trò, mới biết, chị Hằng thương Quốc như cậu em.

Còn tôi thì biết chị Hằng từ lâu. Từ cái hồi đôi vợ chồng Hoàng Việt Hằng – Triệu Bôn còn ở nhờ căn phòng nhỏ trong khuôn viên báo Người thủ đô tại 19 Hàng Buồm. Dạo ấy, nhà văn Triệu Bôn mới từ quân đội chuyển sang ngạch dân sự. chưa tồn tại chỗ ở, anh xin cơ quan cho mái ấm gia đình trú ngụ tạm thời trong 1 căn phòng nhỏ trên tầng 2, đối diện với tòa báo. Nhà Văn Triệu Bôn vốn là người nhân từ lành, trầm tính. Sống trong quân đội gần như suốt thế cục nên anh ít va chạm với đời thường, nhìn cuộc sống đời thường với góc nhìn đơn thuần và giản dị. Còn chị Hoàng Việt Hằng khi đó thuộc diện “ăn theo” chồng nên cũng vô cùng tế nhị. Hai vợ chồng có cậu con trai nhỏ. Nếp sinh hoạt của mái ấm gia đình, dù thu vén tới đâu, cũng chẳng thể ko tác động tới cái gọi là “cơ quan” nên “chuyện này chuyện kia” thường xảy ra. Nhà văn Triệu Bôn, ăn bảo nhỏ nhẹ, chẳng thể địch nổi mấy cái “loa phường”, nên tìm cách né. Mỗi trui chị Hằng chịu trận.

Nhà thơ Hoàng Việt Hằng: Mồ hôi thấm trên trang giấy -0

Rồi những tháng ngày cơ hàn ấy cũng qua. Nhà văn Triệu Bôn được quốc gia phân cho căn hộ trong ngõ 128 phố Đại La. Cả nhà chuyển về đấy. ngẫu nhiên, cậu con trai của Cả nhà tên là Sâm, lại học cùng lớp với con trai đầu của vợ chồng tôi. Trường học ngay cạnh nhà Cả nhà. Ngày khai trường lớp Một, vợ chồng tôi thấy Cả nhà đưa con tới trường. Chị tự sướng các cậu bé tung tăng trong sân trường. Rồi chị gửi cho vợ tôi tấm hình. Thật cảm động.

Một lần, tôi tới thăm nhà văn Tô Hoài. Nhà văn tâm sự, ông quý hai nhà văn trẻ là Lê Lựu và Triệu Bôn. Ông Reviews cao văn tài của hai cây bút này. Nhưng ông tiếc cho nhà văn Triệu Bôn chưa được nổi tiếng như Lê Lựu. Ông gọi đó là “cái được” và “chưa được” của hai nhà văn. Nhưng tôi biết, ông rất quý Triệu Bôn. sau đây, nhà văn Triệu Bôn cũng kể cho tôi rất nhiều chuyện về nhà văn Tô Hoài từ cái thuở “Truyện Tây Bắc”. Quý Triệu Bôn, nhà văn Tô Hoài quý luôn thi sĩ Hoàng Việt Hằng. Ông đã giành riêng cho chị nhiều lời khuyên về đoạn đường viết văn khấp khểnh và gian khó. có nhẽ, thấm nhuần những lời nhắn nhủ của những bậc “đàn anh” là người chồng mà chị đầy kính trọng và nhà văn trưởng lão nên  những tác phẩm chị Hoàng Việt Hằng viết đều phải có dấu ấn riêng.

thi sĩ Hoàng Việt Hằng sinh tại thủ đô. Lớn lên, chị làm người lao động nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, ngay gần bên cạnh nhà. Nhưng thiên hướng thơ ca khiến chị tìm tới cây bút. Chị xin đi học. Ra trường, chị trở lại làm người lao động. Nhưng nỗi say mê viết lại buộc chị đi theo tiếng gọi của thiên hướng. Những trang văn đầu tay chị viết được nhà văn Triệu Bôn thay đổi. Nhà văn trông thấy sự thực tình nhưng vô cùng thơ ngây của cây bút trẻ. Ông nhận thấy chất thơ nhiều hơn thế chất văn xuôi trong mỗi trang viết của chị. Điều ông quý trọng nhất ở chị đó là việc thực tình. Thậm chí, ông gọi, đó là việc thực tình pha chút ngờ nghệch. Đó đó là cái neo vàng so với nghề cầm bút.

Từ những tình cảm thuở đầu ấy, chị yêu nhà văn có gia tài là hai cuộc kháng chiến. Nhưng cao siêu hơn là đoạn đường anh đang đi. Chị cảm nhận tình yêu ấy luôn đầy giông bão:

Em khâu tóc trắng thay lời

mỗi một khi cúi xuống rời rã nỗi đau 

Con chồng, vợ cũ, đồng sâu 

Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng

văn hoa bảy sắc cầu vồng

Chuyện tình anh cũ em ko biết gì

Trong lời tự sự buồn này, người đọc cảm nhận sự san sớt và gánh vác. 1 thời gian sau, nhà văn Triệu Bôn bị tai biến nhẹ. Chiều chiều, tôi thường thấy chị dẫn nhà văn đi dạo trên phố Đại La – con phố lúc nào thì cũng đông người.  Anh Triệu Bôn cầm theo cái giằm nhỏ. Anh rất thích cỏ ấu. Sau cơn mưa, bên những gốc cây, cỏ ấu trồi lên, vươn cao. Lá xanh mướt. Mềm như tóc phụ nữ. Anh đánh từng gốc, mang trồng trong mảnh vườn nhỏ trong sân. nhường như càng về già, chúng ta càng cảm nhận cỏ cây thân thiện hơn, thâm thúy hơn. Nó đó là ta. Và ta là 1 trong phần của cây xanh. Và khi ấy, nhà văn Triệu Bôn như bóng cổ thụ trong nhà. Mọi việc đều do tay chị toan lo:

từ thời điểm ngày anh ốm thừa ra 

Người đàn ông ở trong nhà là em 

bao lăm công việc ko tên

Nửa đêm bơm nước, thắp đèn leo cao

Rồi khi anh đi xa, chị sửa lại căn phòng. Sắp xếp một nơi đặt những kỷ vật của người chồng binh lính. Nơi đó, có bộ binh phục, chiếc túi balo, cái bình tông… tới cả đôi giầy, chiếc cúc áo… Và tất nhiên có cả những tác phẩm của phòng văn Triệu Bôn.  Để chị và con trai luôn cảm thấy nhà văn Triệu Bôn vẫn hiển hiện trong ngôi nhà. Chị chăm sóc viện bảo tàng bé xíu:

Em lau hăng-gô, nhìn cái rút dép 

Kỷ vật 1 thời gắn bó với anh 

Thư viện nhà trui còn góc chiến tranh 

Còn hơi thở của em giành riêng cho ký ức 

Có lần, chị dọn nhà. Thấy tấm ảnh chân dung anh màu đen trắng cũ đã sờn, trong chị lại sáng bừng lên kỷ niệm:

Chợt tấm ảnh trắng đen 

chân dung anh hiện về 

áo lính

nụ cười nhân từ 

đêm viết dưới đèn bấm

chữ mực tím nhòe mờ 

em đã tập buông bỏ 

nhà mối xông mấy lần 

chẳng còn gì để giữ…

Hoàng Việt Hằng là người luôn tràn trề năng lượng sống. Ở nhà, chị là người quán xuyến mọi công việc của đàn ông như sửa nhà, chữa điện, bơm nước… Khi anh Triệu Bôn ốm đau, những công việc của đàn ông càng dồn trên vai chị. Nhưng chị đảm nhận một cách vô cùng thường nhật. Như một lẽ tự nhiên. Khi nhà văn Triệu Bôn ra đi, trong chín năm, chị lặng lẽ thu nhặt bản thảo, thay đổi, sắp xếp. Chị đã in cho anh tới mười đầu sách. có nhẽ, dưới suối vàng, anh Triệu Bôn cũng mát dạ mát ruột.

chẳng những vậy, chị còn là người luôn hành động. Chân đi. Đầu nghĩ. Tay viết. Để làm gì? Để nuôi con. Để chăm chồng. Dấu chân chị đặt tới mọi miền Tây Bắc. Đi bằng xe cộ khách. tới những bản làng xa xôi. Gặp những loài người bé xíu nhưng có tấm lòng trong lành như suối nguồn. Chị hồ hởi kể chuyện, ở Chợ Rã, Bắc Kạn. Có bà mế bán ngan nhỏ. Nhìn đàn ngan liu riu mà bà mế mang từ bản tới. Chị biết bà đã đi dạo qua mấy ngọn núi, đi qua nhiều con suối. Chị hỏi giá một con. Bà mế nói tám ngàn. Chị trả cho bà mế mười ngàn. Nhưng bà mế nhất định ko lấy mười ngàn. Chỉ nhất quyết lấy đúng tám ngàn. Chị cảm thấy cách ứng xử vốn thủy ấy nhường như là phương thuốc tẩy trần so với chị.

Rồi, chị gặp những người phụ nữ đơn chiếc. Họ lặng lẽ sống bên suối, bên bìa rừng. Gia tài hầu như ko tồn tại gì. Nhưng tấm lòng họ vô cùng thơm thảo. Sẵn sàng san sớt với chị những thứ quý giá nhất trong nhà. Những tên đất đai như Phà Đen, Nậm Khan cùng với những tên người như bà Còng, chị Ngải… rất có thể chìm giữa đời thường. Nhưng chị đưa họ lên trang giấy, đưa vào thơ, khiến họ như lung linh hơn. Và tâm vong linh họ tỏa sáng tới người đọc. Tôi cứ tuyệt vời với cách chị miêu tả cậu Nghẹo, một loài người có số phận thiệt thòi:

 ko việc làm 

tật nguyền phải ra ga 

Cậu cũng cố chở hàng kiếm dăm ba ngàn bạc 

Tiền nong chị cho 

Cậu nhận thường cúi mặt 

Chị đã quan sát rất tinh tường. 1 trong số những phẩm chất thứ nhất và quan yếu nhất so với nhà văn là kỹ năng quan sát. toàn bộ những nhà văn lớn trên thế gian thường rất giỏi quan sát. Quan sát để phát hiện rõ ràng. Phát hiện rõ ràng càng nhỏ bé, càng tinh tường, tác phẩm sẽ càng lớn. Cậu Nghẹo tuy nghèo, nhưng khi nhận tiền chị cho, cậu thường “cúi mặt”. Cái động tác cúi mặt của một loài người lương thiện. Của loài người còn đầy lòng tự trọng. Lương tâm còn trong sáng vô cùng. rõ ràng này khiến tôi liên tưởng tới một cảnh trong phim “Người tình” (The Lover- 1992) của đạo diễn Pháp Jean Jacques Annaud (dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Margueriete Duras). Đó là cảnh khi cô nàng Duras từ Sa Đéc lên Chợ Lớn học. Cô đã ngồi trên xe cộ đò. Lúc đó, mẹ cô, bà giáo nghèo mới bước lên xe cộ, đưa tiền cho cô. Nhà giàu thường cho tiền con cái từ sớm. Nhà nghèo thường cho con tiền lúc rất muộn.  Và cho ít. Mấy đồng bạc thiêng nhàu nát. Cô nhận tiền mà mắt cứ cúi xuống. Bởi cô hiểu gia đạo của mái ấm gia đình. Cô hiểu tấm lòng của mẹ. Cô hiểu vị thế của tôi… Và cậu Nghẹo cũng vậy.

Có nhiều người chẳng thể đi trên đoạn đường văn hoa tới cùng. Nhưng tôi tin, thi sĩ Hoàng Việt Hằng sẽ còn đi xa hơn thế nữa. Dù gia tài văn hoa của chị đã có gần hai chục đầu sách với nhiều phần thưởng quan yếu.  chính vì sao? Bởi chị là người luôn vô tư lự, trong sáng và vô tư lự trong việc thẩm định, Reviews tác phẩm của đồng nghiệp. Các nhà văn có cái tật ít đọc của nhau. Và nếu đọc, thường đọc ẩu. Ít khi dám xác nhận cái hay của đồng nghiệp. 

Riêng thi sĩ Hoàng Việt Hằng lại khác. Thấy hay chị nói ngay là hay. ko quanh co. ko úp mở. Chính phẩm chất này khiến chị luôn có động lực và chỉ tiêu trên đoạn đường văn nghiệp khó khăn của tôi. ko tồn tại đoạn đường nào đơn thuần và giản dị và thuận tiện và cân đối. Dù biết trui khổ. Nhưng trong cái khổ có những phúc phận mà nhiều người khác ko tồn tại, hoặc ước mơ. Cái khổ và hạnh phúc ấy đều do những giọt mồ hôi chân chính của tôi đánh đổi. Những giọt mồ hôi vất vả, tinh chất giống như các giọt vàng. Nên chị luôn mạnh mẽ và uy thế, nói cười rổn rảng và sống rất thanh đạm, vô tư lự. Chị cứ hỏi tôi, lúc nào Lê Minh Quốc ra thủ đô? Chị sẽ dẫn vợ chồng Quốc đi ăn nhiều món ăn dân dã ngon hơn bún ốc nhiều. 

xem thêm từ: antgct.cand.com.vn

Tham gia bình luận:

Contact Me on Zalo
0968.308.418