Có một trại sáng tác có một ko hai – Sinh trắc vân tay Infolife

Nhưng, ở Quân khu V  lại có hẳn một ban, gọi là Ban văn chương thuộc Cục Chính trừng trị Quân khu. Ban này do những nhà văn rất nổi tiếng là vốn dĩ Ngọc và Nguyễn Chí Trung lãnh đạo.

Sau phóng thích – nhà văn Thái Bá Lợi kể – cấp khu giải thể. Theo khuyến cáo của hai nhà văn trên, được các đồng chí như Võ Chí Công – bí thơ Khu ủy, Chu Huy Mân – Tư lệnh Quân khu ủng hộ, các văn nghệ sĩ sinh hoạt trên trận mạc Khu V tập hợp về một trại sáng tác do quân khu quản lí. Trại này do nhà văn vốn dĩ Ngọc làm trại trưởng, nhà văn Phan Tứ và Nguyễn Chí Trung làm trại phó. Sau đó ít lâu, nhà văn vốn dĩ Ngọc được gọi ra TP. hà Nội làm Phó Tổng thư ký, bí thơ Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà văn Phan Tứ bận khởi tạo Hội Văn nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng và tập trung sáng tác. Công việc cốt tử do nhà văn Nguyễn Chí Trung đảm nhận.

Trại nằm ở hai vị trí. Đó là nhà số 10 Lý Tự Trọng, 1B Ba Đình.  Các nhà văn từ trên rừng về bao hàm cây bút đang thời sung sức như Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Cao Duy Thảo, Nguyễn tương khắc Phục, Trần Vũ Mai, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Nguyễn Đăng Kỳ, Thanh Quế,  Ngô Thế Oanh, Thái Bá Lợi, Ngân Vịnh, Hoàng Minh Nhân… Cảm thấy lực lượng viết chưa đủ, nhà văn Nguyễn Chí Trung còn điều Trung Trung Đỉnh từ Tây vốn dĩ về, gọi Nguyễn Nam từ Khu VI ra. Ông còn thu nhận những cây viết trong thị thành Đà Nẵng như Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Khế… Ông ra TP. hà Nội mời họa sỹ Lê Văn Tài, dù trong trại đã có họa sỹ điêu tương khắc Tạ quang đãng Bạo. Ông còn ra Huế rủ thêm Bửu Chỉ. Biết tin thi sĩ Thanh Thảo, vừa từ trận mạc Nam Bộ về nhà, ông nhiệt tình mời tham gia luôn.

thi sĩ Thanh Thảo nhớ lại: Trong chiến tranh, anh làm thuê việc viết bài trong Ban Binh vận ở Đài Phát thanh phóng thích. Sau ngày đất  nước thống nhất, Ban Binh vận giải thể. Anh lên đường ra Bắc thăm bố mẹ. Sau những ngày họp mặt vui mừng, rất cần được bắt tay vào công việc mưu sinh. Tìm kiếm công việc ko dễ. Một người bạn tung ra cho anh tới Báo Phụ nữ Việt Nam xin việc. Ban biên biên soạn ra đề bài cho anh cùng một người nữa viết bài thi về vấn đề hôn nhân và mái ấm gia đình. Một chàng trẻ trai vừa ở trong khói lửa chiến tranh, chân ướt chân ráo về Thủ đô, làm sao vượt qua kỳ thi hóc búa? Đang buồn phiền chờ kết quả, chàng người săn tin trận mạc tự dưng nhận được lời mời của phòng văn Nguyễn Chí Trung. Mừng húm. ko chờ kết quả của Báo Phụ nữ, anh khoác balo, về Trung ngay.

Nhà văn Trung Trung Đỉnh, khi đó đang thuộc biên chế tỉnh đội một tỉnh Tây vốn dĩ, mới có một truyện ngắn được đăng trên tờ báo của Ban văn chương, tự dưng nhận được lời mời về trại. ko biết về để làm gì. Nhưng, nghe tin trong trại có những cây bút mà anh hằng yêu mến, như chim sổ lồng, bay về luôn. Ở Sư đoàn 307 của tôi, có nhà văn Nguyễn Đăng Kỳ. Ông người thăng bình. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông từng làm kết nối cho nhân vật M (Mộc) trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. trước lúc tòng ngũ, ông là thầy giáo. Khi về trại, những ngày đầu, ông ngạc nhiên như chim chích lạc rừng. Nhưng, được sống và thao tác trong ko khí văn chương sôi động, khi kết thúc trại, ông cũng có thể có tác phẩm rất xứng đáng.

Có một trại sáng tác độc nhất vô nhị -0
Nhà văn Nguyễn Chí Trung (bên phải) cùng thi sĩ Thanh Thảo

Ở trại viết này, các nhà văn sống bằng gì? Những người thuộc biên chế quân đội, như thi sĩ Thu Bồn, nhà văn Thái Bá Lợi, thi sĩ Thanh Thảo… được bất biến lương. hồ hết đều mang quân hàm trung úy. Lương cấp đó đâu nhiều nhặn gì. Nhận hôm trước, hôm sau đã mất. một số trong mỗi người thuộc nhóm khác như Ngô Thế Oanh, Thanh Quế… thì nhận lương cán sự. Cũng mỏng dính teo. May các anh còn đơn thân. dù vậy, để tăng cường thể trạng cho những cây bút, ông Nguyễn Chí Trung có sáng kiến nuôi gà. Một trại gà được dựng ngay trong trại để lấy trứng bồi dưỡng. Nhà văn Thái Bá Lợi hóm hỉnh: “Ngày ngày gà cục tác đẻ trứng. Đêm đêm trại viên lặng thầm đẻ tác phẩm”.

Tôi hỏi: “Trong trại, các anh có được lên lớp hay nghe giảng gì ko?”. Nhà văn Thái Bá Lợi cho thấy thêm, các anh ko phải lên lớp hay nghe ai giảng giải nhưng ko khí sáng tác luôn sinh động. Nhà văn Phan Tứ, trại phó phụ trách chuyên môn vốn nổi tiếng cẩn trọng và tận tường. Dù bận viết tác phẩm, lại kiêm chủ toạ Hội Văn nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng, nhưng ông ko lúc nào bỏ những lúc trao đổi chuyên môn. Các tác phẩm của trại viên được Phan Tứ chăm sóc kỹ lưỡng. Chủ đề, bố cục, ngôn từ… được ông phân tích đâu ra đó. Ông cho đồng đội xem đề cương tiểu thuyết của tớ bằng một lược đồ dọc ngang rõ ràng. Ví dụ, nhân vật này ở hàng ngang phát triển tới nơi nào thì gặp một nhân vật từ hàng dọc cắt qua và tính cách của họ được thể hiện. Quan sát đề cương tiểu thuyết của Phan Tứ, có những trang như biểu mẫu thống kê. Có người thích, có người ko. Nhưng, ai cũng khâm phục sự “cẩn tỉ” của Phan Tứ.

Hồi chiến tranh, Phan Tứ ghi nhật ký bằng nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Việt, Đức, Nga, Lào… Hỏi vì sao thì ông đáp lời để giữ bí mật. Một trại viên trẻ đã hớp tớp hỏi thêm một câu làm nhà văn rất phật lòng: “Anh Bốn (tên thường gọi thân yêu của Phan Tứ) à, chả lẽ bọn Mỹ ko biết tiếng Anh?”. Sau ngày nhà văn Phan Tứ qua đời, nhật ký được xuất bản với hàng ngàn trang. Phải huy động nhóm biên biên soạn cự phách về vốn sống trận mạc, nhất là ngoại ngữ, để giải thuật. Trong khi trao đổi chuyên môn, nhà văn Phan Tứ thường khuyến cáo bảo lưu những chủ kiến của tớ nếu ko tồn tại sự đồng thuận. Tác phẩm, kỹ năng và học thức, loài người của phòng văn Phan Tứ là niềm kiêu hãnh của trại viên.

Ngay từ hồi mới khởi tạo, trại trưởng Nguyễn Chí Trung đã tổ chức học tiếng Anh. ko  buộc phải. Ai ko học cũng chẳng sao. Học tiếng Anh ở trại có thuận tiện là ít phải tra tự điển. Từ nào ko biết cứ hỏi nhà văn Phan Tứ. Anh sẽ nói ngay từ này còn có nghĩa 1, 2, 3, 4… là gì.

Nhà văn Thái Bá Lợi kể tiếp: ko khí sáng tác cứ sùng sục như đi dánh trận. ko chỉ có chăm chăm ngồi ở Đà Nẵng để hoàn trả thành tác phẩm theo đề cương đã được trại trải qua, trại trưởng Nguyễn Chí Trung còn liên hệ với các địa phương, các đơn vị để các trại viên thâm gia nhập thực tế. Hồi đó, chiến tranh biên thuỳ Tây Nam đã nổ ra và ngày 1 dữ dội. Người nào thì cũng rất được cử đi trận mạc, ít ra vài lần. thi sĩ Ngân Vịnh còn được cử hẳn về một sư đoàn đang chống chọi tận Batambang, sát biên thuỳ Thái Lan. Còn vùng Đông Bắc Campuchia thuộc trận mạc Khu V như Stung Treng, Kratie, Mondonkiri… là nơi thường xuyên đi về của những trại viên. Nhà văn Trung Trung Đỉnh lúc đầu đi với Trung đoàn 29, Sư đoàn 307 của tôi. Sau đó anh rẽ sang hướng Trung đoàn 95. chẳng những vậy, trại trưởng Nguyễn Chí Trung còn cử các trại viên tới những vùng lính tráng làm tài chính ở cao vốn dĩ như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk… Mỗi lần các trại viên đi thực tế trở về, trại đều tổ chức các lúc trao đổi để từ đó phát sinh phát minh sáng tác.

Trại sáng tác thực sự trở nên một liên hệ văn hóa rực sáng của Đà Nẵng. Suốt thời gian tồn tại, liên hệ số 10 Lý Tự Trọng là nơi đi về, gặp gỡ, trao đổi của nhiều văn nghệ sĩ mỗi dịp qua miền Trung. Các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Võ Trần Nhã…, các thi sĩ Xuân Diệu, Huy Cận, Phạm Ngọc Cảnh… cùng rất nhiều nhà văn, thi sĩ khác đều ghé trại. Các thi sĩ Vũ Hữu Định, Đông Trình… sống và làm thơ ở Đà Nẵng trước phóng thích là khách thường xuyên của trại.

Có một trại sáng tác độc nhất vô nhị -0
Nhà văn Nguyễn Chí Trung sang Thái Lan nhận Giải văn chương ASEAN 2011 (ngồi hàng đầu, bên phải)

Từ bên kia đèo Hải Vân, đồng đội văn nghệ sĩ xứ Huế, tuần nào, tháng nào thì cũng có thể có người vượt đèo vào chơi. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói: “Đà Nẵng thay đổi rồi. Cái liên hệ văn hóa tương tự này, trước đây làm gì có”. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng có con trai đang công việc tại Đà Nẵng. Mỗi lần đi thăm con, ông thường ghé qua trại. Có mẩu chuyện buồn cười mà rất thật. Một hôm, ông Bổng hỏi: “Ngoài sáng tác ra, các cậu để tâm tới điều gì nhất?”. Một trại viên đáp lời: “Bọn em có cái đề án về ba dòng thác cách mệnh mới”. Ông Bổng, vốn tính thực thà, hỏi: “Ba dòng thác ấy là gì?”. Một trại viên khác tỉnh bơ: “Xin thú thực, bọn em chưa ai đáp lời được”. Cả tuần, cả tháng, ông vẫn hỏi nhưng ko người nào đáp lời. Rồi ông dằn giọng: “Ba dòng thác của những cậu so với ba dòng thác hiện nay (trào lưu cách mệnh xã hội chủ nghĩa, cách mệnh phóng thích dân tộc, trào lưu người lao động các nước tư bản) chỉ là những khe nước róc rách thôi”. Một trại viên cười ầm lên, tếu táo đáp: “Anh ép quá thì bọn em đành phải nói. Ba dòng thác của bọn em là uống rượu, nói xấu cơ quan và nghe nhạc vàng”.

cũng có thể có nhiều đêm, đồng đội đi dạo về khuya, trại trưởng Nguyễn Chí Trung rất bực. Để duy trì kỷ luật quân đội, thỉnh phảng phất ông lại báo động chống chọi vào đêm hôm. đồng đội lại khoác balo, chạy quanh sân số 10 Lý Tự Trọng mấy vòng. Rồi giải thể. Về phòng sáng tác.

Trại sáng tác kéo dãn dài 5 năm (1975-1980). Trong gần 5 năm đó, có biết bao chuyện vui – buồn, chuyện tếu táo… Nhưng, sau cuối, cũng thu được thành tựu. Những tác phẩm của những trại viên đã ghi lại sự phát triển vượt bậc của văn chương Khu V. chẳng thể kể được hết, chỉ xin nêu một số trong mỗi tác phẩm điển hình. thi sĩ Trần Vũ Mai với trường ca “Ở làng Phước Hậu”, thi sĩ Thanh Quế với tác phẩm “Cát cháy”, thi sĩ Bùi Minh Quốc với “Hồi đó ở Sa Kỳ”, thi sĩ Thanh Thảo với trường ca “Những người đi tới biển”, nhà văn Nguyễn Trí Huân với tiểu thuyết “Năm 1975, họ đã sống tương tự”, thi sĩ Thu Bồn với trường ca “Bazan khát”, nhà văn Thái Bá Lợi với “Thung lũng thách thức” và “Hai người trở lại trung đoàn”, nhà văn Nguyễn Đăng Kỳ với tiểu thuyết “Vàng Krưm”…

một chiếc được rất rộng lớn của trại sáng tác này là đã tập huấn được một lớp nhà văn. Khi mới về trại, họ nhường như chưa xuất hiện tiếng tăm trong văn chương. Nhưng, khi kết thúc trại, họ trở nên những cây bút quan yếu, tạo sự lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ai cũng ghi nhận sự để tâm của những thủ trưởng quân khu, nhất là nhà văn Nguyễn Chí Trung. Ông nhóng sự phát triển của trại viết như sự nghiệp của đời tôi. Ông gác việc sáng tác, chăm lo cho những trại viên. Ông bỏ một ngày dài để trao đổi, bàn luận với các thi sĩ Thu Bồn, Thanh Thảo, Trần Vũ Mai… Ông tranh luận khốc liệt.  so với các người sáng tác văn xuôi, ông mất công nhiều hơn thế. nhất là nhà văn Nguyễn Đăng Kỳ. Ông đã góp ý hàng chục lần để nhà văn này hoàn trả thành tiểu thuyết “Vàng Krưm”. Ông thật sự vui mừng khi thấy trại viên có tác phẩm chào đời.

Một trại viết tương tự đã từng có ở Đà Nẵng. giờ, nó vẹn tròn có thể chẳng thể thích hợp. Nhưng, cách tổ chức khác thường, cách thu nhận các trại viên, cách sinh hoạt của trại… cũng để lại cho chúng ta rất nhiều nghĩ suy về đoạn đường phát triển của văn chương bữa nay và ngày mai.

xem thêm từ: antgct.cand.com.vn

Tham gia bình luận:

Contact Me on Zalo
0968.308.418